Việt Nam quy định như thế nào về hôn nhân đồng giới?
Pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về hôn nhân đồng tính khi mà các cặp đôi đồng tính xuất hiện ngày càng nhiều? Đây là vấn đề được khá nhiều bạn đọc quan tâm, do đó bài viết này chúng tôi xin chia sẻ một quy định về vấn đề có liên quan đến hôn nhân đồng tính.
Để hiểu cụ thể thế nào là hôn nhân đồng tính thì hiện chưa có văn bản nào giải thích rõ điều này. Thế nhưng, chúng ta có thể hiểu hôn nhân đồng tính hay hôn nhân đồng giới là hôn nhân giữa hai người có cùng giới tính.
Nếu như trước đây, một trong những trường hợp cấm kết hôn nêu tại Điều 10 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 là việc kết hôn giữa những người có cùng giới tính thì tại Nghị định 82/2020/NĐ-CP hiện đang có hiệu lực, những người đồng giới kết hôn với nhau không còn bị phạt. Quy định này nhằm đồng bộ việc “không thừa nhận mà không còn cấm” tại Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Như vậy, so với quy định trước đây, hiện nay, Nhà nước không còn cấm những người có cùng giới tính kết hôn mà chỉ “không thừa nhận” mối quan hệ hôn nhân này. Đồng nghĩa, những người đồng tính có thể tổ chức đám cưới, sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không được thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Khi đó, hôn nhân giữa hai người có cùng giới tính sẽ không tồn tại và không được pháp luật thừa nhận nên không phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng; cấp dưỡng; thừa kế; tài sản chung vợ chồng…
- Về nhân thân: Giữa hai người đồng tính không có ràng buộc về mặt pháp lý, không được cấp đăng ký kết hôn, không được công nhận là vợ, chồng hợp pháp. Bởi vậy, con cái, cấp dưỡng, quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng… không tồn tại;
- Về quan hệ tài sản: Vì không có quan hệ vợ chồng nên không áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng được quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Nếu phát sinh tranh chấp, tài sản không được chia theo nguyên tắc chung về tài sản chung vợ, chồng.
Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và Luật khác có liên quan.
Căn cứ quy định này, sau khi chuyển đổi giới tính, cá nhân phải đăng ký thay đổi hộ tịch. Sau đó, người này sẽ có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi. Một trong số các quyền nhân thân là quyền đăng ký kết hôn.
Như vậy, sau khi chuyển giới, đăng ký thay đổi hộ tịch thì người chuyển giới được quyền đăng ký kết hôn với người khác giới tính đã chuyển và quan hệ hôn nhân này sẽ được pháp luật công nhận.
Như vậy, đến thời điểm hiện tại thì quy định về kết hôn với người đồng tính tại Việt Nam đã được cho phép nhưng không thừa nhận.
Nếu còn bất cứ vướng mắc gì về hôn nhân gia đình thì bạn đọc có thể liên hệ với văn phòng tư vấn luật hôn nhân gia đình miễn phí DHLaw để được nghe ý kiến từ chuyên gia.
Thông tin hỗ trợ:
- Địa chỉ: số 185 Nguyễn Văn Thương, phường 25, Bình Thạnh, TPHCM
- Hotline: 0909 854 850
- Email: contact@dhlaw.com.vn
1./ Pháp luật Việt Nam quy định không cấm kết hôn đồng tính nhưng cũng không thừa nhận
Để hiểu cụ thể thế nào là hôn nhân đồng tính thì hiện chưa có văn bản nào giải thích rõ điều này. Thế nhưng, chúng ta có thể hiểu hôn nhân đồng tính hay hôn nhân đồng giới là hôn nhân giữa hai người có cùng giới tính.
Nếu như trước đây, một trong những trường hợp cấm kết hôn nêu tại Điều 10 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 là việc kết hôn giữa những người có cùng giới tính thì tại Nghị định 82/2020/NĐ-CP hiện đang có hiệu lực, những người đồng giới kết hôn với nhau không còn bị phạt. Quy định này nhằm đồng bộ việc “không thừa nhận mà không còn cấm” tại Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Như vậy, so với quy định trước đây, hiện nay, Nhà nước không còn cấm những người có cùng giới tính kết hôn mà chỉ “không thừa nhận” mối quan hệ hôn nhân này. Đồng nghĩa, những người đồng tính có thể tổ chức đám cưới, sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không được thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Khi đó, hôn nhân giữa hai người có cùng giới tính sẽ không tồn tại và không được pháp luật thừa nhận nên không phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng; cấp dưỡng; thừa kế; tài sản chung vợ chồng…
- Về nhân thân: Giữa hai người đồng tính không có ràng buộc về mặt pháp lý, không được cấp đăng ký kết hôn, không được công nhận là vợ, chồng hợp pháp. Bởi vậy, con cái, cấp dưỡng, quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng… không tồn tại;
- Về quan hệ tài sản: Vì không có quan hệ vợ chồng nên không áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng được quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Nếu phát sinh tranh chấp, tài sản không được chia theo nguyên tắc chung về tài sản chung vợ, chồng.
2./ Có được kết hôn với người đã chuyển giới không?
Theo Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015:Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và Luật khác có liên quan.
Căn cứ quy định này, sau khi chuyển đổi giới tính, cá nhân phải đăng ký thay đổi hộ tịch. Sau đó, người này sẽ có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi. Một trong số các quyền nhân thân là quyền đăng ký kết hôn.
Như vậy, sau khi chuyển giới, đăng ký thay đổi hộ tịch thì người chuyển giới được quyền đăng ký kết hôn với người khác giới tính đã chuyển và quan hệ hôn nhân này sẽ được pháp luật công nhận.
Như vậy, đến thời điểm hiện tại thì quy định về kết hôn với người đồng tính tại Việt Nam đã được cho phép nhưng không thừa nhận.
Nếu còn bất cứ vướng mắc gì về hôn nhân gia đình thì bạn đọc có thể liên hệ với văn phòng tư vấn luật hôn nhân gia đình miễn phí DHLaw để được nghe ý kiến từ chuyên gia.
Thông tin hỗ trợ:
- Địa chỉ: số 185 Nguyễn Văn Thương, phường 25, Bình Thạnh, TPHCM
- Hotline: 0909 854 850
- Email: contact@dhlaw.com.vn

Nhận xét
Đăng nhận xét